TÌM KIẾM

Tôi là Dương Văn Quang


Trước tiên, tôi xin gửi lời chào, lời tri ân đến quý độc giả đã ghé thăm và quan tâm đến blog này. Tôi tên là Dương Văn Quang, sinh năm 1951. Mặc dù đã ngoài 60 tuổi nhưng tôi vẫn luôn giữ trong mình một đam mê mãnh liệt đó là được giao lưu, kết bạn với mọi người thông qua những con chữ.

Bên cạnh đó, tôi cũng rất yêu thích thể thao, ẩm thực và du lịch. Vậy nên, bạn nào có cùng mối quan tâm thì hãy tương tác với tôi dưới phần comment hoặc gửi email trực tiếp để trao đổi cùng tôi nhé.

Câu chuyện về Dương Văn Quang tôi xin được bắt đầu

Vậy bạn có muốn biết lý do vì sao mà đến độ tuổi này tôi vẫn còn có được sức khỏe và tinh thần để theo đuổi đam mê viết blog không? Đó là cả một quá trình dài, nhờ những khó khăn, vất vả và cả những biến cố từng trải qua, nhờ được sống và làm việc vào thời khắc giao thoa giữa chiến tranh và hòa bình… tôi đã có được một vốn trải nghiệm rất phong phú, đa dạng.

Vì không muốn những trải nghiệm tuyệt vời đó bị lãng phí, tôi đã tìm đến phương thức viết blog để lưu giữ lại chúng.

Để nói về cuộc đời mình, đó là một câu chuyện thật dài và gian truân. Tôi sinh vào năm 1951 – thời khắc mà đất nước đang chuẩn bị bước vào giai đoạn vô cùng cam go của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Vì thế, thời thơ ấu của tôi là những ngày tháng ngập trong bom đạn, chết chóc.

Cha tôi đi chiến trường lâu không về, một mình mẹ tôi tần tảo nuôi 4 anh chị em. Dù thiếu vắng bóng cha, nhưng chúng tôi vẫn thấy cuộc sống thật hạnh phúc vì luôn có sự chăm lo đầy đủ và tình yêu thương vô bờ từ mẹ. Năm 1954, dù mới là đứa trẻ 4 tuổi nhưng tôi đã cảm nhận được sâu sắc nỗi đau mất cha và hơn thế hiểu được toàn bộ người dân đang hứng chịu cảnh đạn bom đau thương từ cuộc chiến ác độc mà đế quốc Mỹ gây nên. Cả nhà tôi đã khóc và buồn rất nhiều khi nhận được giấy báo tử của cha. Sau đó, mẹ cũng ốm nặng và bị liệt mất cánh tay phải. Chị cả của tôi phải lớn trước tuổi, tần tảo nuôi mẹ và 3 đứa em thơ.

Cuộc sống lúc bấy giờ thật nghèo khó! Đến khoai sắn cũng chẳng đủ ăn. Nhiều hôm tôi đói đến lả người, phải ăn sống củ của cây chuối hột cứu đói. Nhưng cũng nhờ những lúc khốn khó như vậy mà con người ta trở nên rạn dĩ hơn nhiều các bạn ạ!

Tôi không hề chùn bước trước khó khăn, tôi tập cách làm ngơ với nghèo khó và bịt tai trước bom đạn mà vươn lên. Tôi bắt đầu tập tành nhặt nhạnh những con cua, con ốc giúp chị từ khi lên 5, lên 7. Rồi khi đôi tay khỏe hơn thì ra đồng bắt cá, cấy hái, gặt lúa, lên rừng đốn củi.

Những năm tháng đầu đời của tôi cứ thế trôi qua. Thật may mắn, 5 người còn lại trong gia đình vẫn an toàn và khỏe mạnh trước bom đạn khốc liệt.

Năm 1968, khi bước vào 18 tuổi, tôi lớn lên về cả thể chất và nhận thức. Tôi hiểu được nỗi đau của đồng bào trước chiến tranh, nhất là nỗi đau mất đi người thân. Vì thế, tôi đã đăng ký nhập ngũ.

Ngày lên đường có chút hồi hộp nhưng quan trọng hơn, tôi cảm thấy thật tự hào vì giờ đây được đứng trong hàng ngũ quân đội nhân dân, được khoác lên vai màu áo mà ba tôi đã từng tâm huyết. Tôi tự hứa với lòng mình phải thật can đảm và chiến đấu hết mình cho sự bình yên của tổ quốc.

Thế nhưng chiến đấu trên chiến trường thực sự là thời kỳ gian nan và khốc liệt. Nỗi đau mất đi đồng đội nó cào xé tôi và các anh em như chính nỗi đau mất đi người thân yêu đã gắn bó với mình từ lâu. Sự ra đi ấy đến từ những cuộc đổ bộ khốc liệt của quân đội Mỹ. Chúng dội bom xuống căn cứ đóng quân của chúng tôi nhiểu như vãi những hạt thóc mùa gieo mạ.

Cũng chính vì đau thương phải trải qua quá nhiều, mà anh em chúng tôi càng quyết tâm dành bằng được chiến thắng về phía quân đôi ta. Thế là, chúng tôi tập trung hết sức có thể – nhằm thẳng quân thù mà bắn, không để sơ hở bất kỳ một thông tin nào vào tai địch dù chúng có bị tra tấn dã man đến mức nào.

Mùa xuân năm 1975, giữa lúc thế sự đang cực kỳ căng thằng, đặc biệt là niềm tin chiến thắng của quân và dân ta đang sôi sục thì tôi không may trúng bệnh sốt xuất huyết. Nhưng thực sự không hiểu vì sao tôi lại qua khỏi nhanh đến như vậy các bạn ạ. Chỉ trong một tuần, bệnh đã khỏi hẳn.

Có lẽ vì quá mong muốn được cầm súng đứng bên đồng chí đồng đội mà ý chí của tôi đã chiến thắng bệnh tật chăng? Nhưng dù sao đi nữa, đó cũng là một sự việc đáng mừng trong thời chiến của tôi.

Đúng như những gì chúng ta tin tưởng, ngày 30 /04/1975, toàn bộ quân địch đầu hàng, chúng ta đã thắng lợi, thực sự thắng lợi vẻ vang. Trải qua trận chiến khốc liệt đó, những gì để lại trong tôi không chỉ là hỉnh ảnh đau thương mà đó là tình đồng chí, đồng đội sâu nặng, là niềm hân hoan của toàn dân tộc khi dành được chiến thắng.

Tôi nhớ như in những kỷ niệm cùng anh em trong đơn vị. Đó là những chiều cùng nhau đi tắm bên suối, cùng nhau đi hái rau rừng để cải thiện bữa ăn, là bát cơm chia ngọt sẻ bùi, là những đêm trăng cùng nhau làm thơ và kể cho nhau nghe về những nàng thơ trong lòng… Những tình cảm ấy thật chân thật, không vụ lợi và cho đến bây giờ tôi cũng không thể nào quên.

Một kỷ niệm tiếp theo mà tôi càng không thể quên được đó là ngày chúng tôi ngồi trên đoàn xe dài tiến về quảng trường. Tôi được bắt gặp những hình ảnh súc động thực sự. Hình ảnh thiêng liêng khi tổ quốc giang tay chào đón chúng tôi trở về, là mẹ già mong ngóng đứa con trẻ, là những đứa con vui mừng gọi cha, là người vợ nuốt nước mắt vào lòng sau những tháng ngày cay đắng… Quả thực, không chỉ là nụ cười, ngày trở về còn là những giọt nước mắt của tình yêu và sự hạnh phúc vô bờ.

Trở về sau những tháng năm sống trong quân đội, tôi và những người lính bắt đầu với cuộc sống như những người dân bình thường khác. Ban đầu, hòa bình mới lặp lại, chính sách của nước ta vẫn còn những khó khăn nên tôi cũng chưa tính đến chuyện buôn bán. Vậy nên, tôi lại tiếp tục phụ giúp mẹ công việc nhà, làm đồng và chăm sóc mẹ. Cùng với đó, tôi cũng bắt đầu thử sức với đèn sách, trước hết là để mở rộng hiểu biết, sau là hi vọng có thể làm cho cuộc sống khấm khá hơn. Về phần các anh chị tôi, họ đều đã lập gia đình và có cuộc sống riêng của mình.

Vài năm sau, tôi gặp được người yêu, chính là người vợ đáng mến của tôi bây giờ. Cô ấy là cô giáo mới ra trường. Thuở ấy, tôi yêu em vì sự nhanh nhẹn, thông minh và dịu dàng của một cô giáo chân chính. Thật may mắn, tình yêu ấy được cha mẹ và anh chị hai bên gia đình đều vun đắp. Vậy là chỉ sau một thời gian ngắn yêu thương hết mực, chúng tôi đã đi đến đám cưới vào năm 32 tuổi.

Sau khi kết hôn, 2 vợ chồng tôi vẫn sống cùng mẹ để tiện chăm sóc mẹ. Lúc này, nhờ có vợ kèm thêm, tôi đã học hành kha khá, đọc viết thành thạo và tiếp cận được với nhiều cuốn sách với những tư tưởng thật sự tiến bộ.

Tôi cũng tham gia vào công tác xã hội ở địa phương, tuyên truyền đến bà con lối xóm những điều hay, những lẽ phải, hi vọng cuộc sống của mỗi người đều tiến bộ hơn. Cuộc sống không quá nhiều biến động và cứ như vậy trôi qua.

Vì tuổi cao sức yếu, mẹ tôi đã qua đời sau khi chúng tôi kết hôn được 2 năm. Mẹ ra đi trong sự an yên của tuổi gia vì con cái đều đã có gia đình riêng và trưởng thành. Nhưng trong lòng tôi thì không nguôi trách mình vì kinh tế chưa thực sự vững chắc để cụ được sống trong sung sướng và cũng chưa có cháu cho cụ bế bồng.

Khoảng 2 năm sau đó, cả gia đình tôi thực sự vui mừng vì vợ tôi mang thai đứa con đầu lòng. Lúc này, tôi nghĩ mình cần phải làm gì đó đổi mới để cuộc sống gia đình sung túc hơn, nhất là đứa con đầu lòng phải được hạnh phúc và có những ngày tháng ấm no.

Vậy là tôi âm thầm bắt tay nghiên cứu những câu chuyện kinh doanh và những thành công của người khác. Vì vẫn duy trì gặp gỡ những anh em cùng chiến đấu với mình nên tôi có cơ hội được quen nhiều người khá thành công trong kinh doanh các lĩnh vực. Nhờ đó, tôi học được những bài học và những kinh nghiệm làm ăn quý báu từ họ.

Sau đó, tôi quyết định hùn vốn cùng các anh em khác mà chưa có định hướng ổn định hùn vốn ra làm một xưởng mộc. Chỉ vài tháng sau đó, chúng tôi đã có được những khoản lời tương đối. Vậy là tôi và vợ có thể yên tâm chờ đón sự chào đời của đứa con đầu lòng trong vài tháng tới rồi.

Niềm vui càng nhân lên nhiều lần, khi tôi không chỉ đón chào 1 mà đến tận 2 thiên thần đáng yêu. Ngắm nhìn các con và vợ đang ngủ tôi thấy cuộc sống thật yên bình. Tôi muốn lưu giữ những khoảnh khắc này thật lâu, thật lâu trong trái tim mình.

Những ngày sau đó, tôi lại tiếp tục chăm chỉ làm ăn. So với những gia đình khác trong vùng, thì cuộc sống của vợ chồng tôi và các con cũng thuộc dạng khá giả, có của ăn của để. Thế những có lẽ cuộc sống không êm đềm như tôi nghĩ…

Khi các con lên 5 tuổi, xưởng mộc mà chúng tôi đang làm không còn thu được doanh thu như ý nữa. Nhu cầu không có, chúng tôi cũng chẳng tiếp cận được những người mới. Vậy là, chúng tôi quyết định tìm những hướng đi mới. Chật vật khoảng chừng nửa năm, xưởng mộc cuối cùng cũng hoạt động ổn định trở lại.

Thế nhưng, lúc này vợ chồng tôi lại gặp một biến cố thực sự không ngờ tới. Con trai đầu của tôi mắc phải căn bệnh nguy hiểm. Có lẽ do quá mải mê làm ăn mà chúng tôi không hay con đã bị bệnh này từ khi còn nhỏ. Lúc này chúng tôi phải bán nhà và vay mượn rất nhiều để lo chữa trị cho con.

Biến cố ấy là một bài học mà chúng tôi phải trả giá vì sự lơ đãng, chỉ quan tâm đến vật chất cho các con. Vậy bạn có muốn biết rõ biến cố ấy, chúng tôi có vượt qua, làm thế nào để chúng tôi vượt qua và cậu con trai của tôi bây giờ thế nào? Tất cả những điều này, tôi sẽ chia sẻ với bạn trong thời gian gần nhất nhưng không phải là bây giờ.

Hãy chờ đón nhé!

Còn bây giờ, tôi Dương Văn Quang vẫn có một mong mỏi được kết bạn với nhiều người, không phân biệt độ tuổi nhưng nếu là những người cao tuổi thì tôi rất hoan nghênh. Nhờ có các bạn, tôi cảm thấy cuộc đời này vui vẻ và phong phú hơn nhiều, những trải nghiệm tôi có được không còn đơn độc nữa.